Kinh Thánh mạc khải về chương trình cứu độ của Thiên Chúa

Kinh Thánh bắt nguồn từ đâu?

 Danh từ Kinh Thánh hay Thánh Kinh trong Tiếng Việt được dịch từ chữ Holy Bible trong Tiếng Anh. Chữ Bible trong Tiếng Anh xuất phát từ chữ Biblia trong Tiếng La Tinh, hay βιβλία trong tiếng Hy Lạp. Đây là một danh từ mô tả số nhiều, trung tính, có nghĩa là “những cuốn sách.” Trong danh từ Hán Việt, các sách tôn giáo dạy đạo lý được gọi là kinh; cho nên chữ Biblia Sacra khi được dịch sang tiếng Việt đã được các dịch giả gọi là Kinh Thánh.

Kinh Thánh chứa đựng điều gì?

                Kinh Thánh là mạc khải của Thiên Chúa dành cho nhân loại để: -  soi sáng con người hiểu biết Thiên Chúa, - hiểu biết nguồn gốc con người từ đâu,  - và tương quan với Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng, điều khiển mọi loài hữu hình và vô hình. “Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài (x. Eph 1,9). Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa (x. Eph 2,18; 2P 1,4). Trong việc mạc khải này, với tình thương chan chứa của Ngài, Thiên Chúa vô hình (x. Col 1,15; 1Tm 1,17) ngỏ lời với loài người như với bạn hữu (x. Xac 33,11; Gio 15,14-15). Ngài đối thoại với họ (x. Bar 3,38) để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài. Công cuộc mạc khải này được thực hiện bằng các hành động và lời nói liên kết mật thiết với nhau. Nên các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu rỗi bày tỏ, củng cố giáo lý và những điều được giải thích qua lời nói. Còn lời nói thì công bố các việc làm và khai sáng mầu nhiệm chứa đựng trong đó. Nhờ mạc khải này, chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về phần rỗi con người, được sáng tỏ nơi Chúa Kitô, Ðấng trung gian, đồng thời là sự viên mãn của toàn thể mạc khải” (DV 1)

Thiên Chúa mạc khải về chính mình như thế nào?

 Thiên Chúa, Ðấng tạo dựng và bảo tồn mọi sự nhờ Ngôi Lời (x. Gio 1,3), không ngừng làm chứng về Mình trước mặt loài người qua các tạo vật (x. Rm 1,19-20).  Và vì muốn mở đường cứu rỗi cao trọng, nên từ đầu Ngài còn tỏ Mình ra cho tổ tông chúng ta. Sau khi tổ tông sa ngã, qua lời hứa ban ơn cứu chuộc, Ngài đã nâng đỡ họ dậy trong niềm hy vọng cứu rỗi (x. Stk 3,15). Ngài không ngừng săn sóc nhân loại, để ban sự sống đời đời cho tất cả những ai tìm kiếm sự cứu rỗi nhờ kiên tâm làm việc thiện (x. Rm 2,6-7).  Khi đến giờ đã định, Ngài gọi Abraham để qua ông, Ngài tạo lập một dân tộc lớn mạnh (x. Stk 12,2-3), một dân tộc mà sau thời các Tổ Phụ, Ngài đã dùng Môisen và các Tiên Tri dạy dỗ, để họ nhận biết Ngài là Chúa duy nhất, hằng sống và chân thật, là Cha quan phòng, là thẩm phán chí công, để họ trông đợi Ðấng Cứu Thế được hứa ban và nhờ vậy, qua bao thế kỷ, Ngài đã dọn đường cho Phúc Âm (DV 2).

Thiên Chúa mạc khải qua những giai đoạn nào?

 Mạc Khải này thể hiện từng giai đoạn, ta có thể gọi là Mạc Khải qua vũ trụ, Mạc Khải sơ khai và Mạc Khải trong lịch sử.  1. "Mạc Khải qua vũ trụ" hay qua "tạo vật" (x. Rôma 1,19-20). Thiên Chúa có ban ơn để người ta có thể nhận biết Chúa qua tạo vật. Thiên Chúa mạc khải khi tạo dựng. Chúa tạo dụng để chỉ rõ là tất cả tạo vật luôn luôn tùy thuộc vào Ðấng Tạo Hóa, dầu cả trong giả thuyết tiến hóa. Mọi người đều có thể thấy trong tạo vật bằng chứng sự hiện hữu của Thiên Chúa. 2. “Mạc khải sơ khai" được trình bày trong tầm mức siêu nhiên. Thiên Chúa đã tỏ mình cho con người cũng chỉ muốn nói là Thiên Chúa đã luôn luôn cứu thoát con người. 3. "Mạc khải trong lịch sử" bắt đầu với Abraham. Công Ðồng đã muốn nêu lên mối liên lạc giữa việc tuyển chọn và Mạc Khải. Thiên Chúa được gọi là "Cha". Cựu Ước được coi như là sự "chuẩn bị" cho Phúc Âm để nói lên ý tưởng mạc khải trong Cựu Ước còn bất toàn và có liên quan đến Mạc Khải của Chúa Kitô. Nhập Thể là cuộc Mạc Khải vĩ đại của Thiên Chúa. Vì vậy trước tiên phải xác định chân lý Nhập Thể, bản tính nhân loại thật sự của Chúa Kitô, trong đó ta "thấy" Chúa (x. Gio 14,9) và lịch sử thật của Ngài, "lời nói và việc làm". Các phép lạ không phải chỉ là sự "xác nhận" Mạc Khải, nhưng là chính Mạc Khải: vì Chúa Kitô tỏ mình qua các phép lạ. (DV 3)

Thiên Chúa mạc khải lịch sử cứu độ thế nào trong Cựu Ước?.

                Thiên Chúa chí ái, khi ân cần trù liệu và chuẩn bị việc cứu độ toàn thể nhân loại theo một kế hoạch lạ lùng, Ngài đã tuyển chọn một dân tộc để ủy thác những lời ước hẹn. Thực vậy, sau khi ký giao ước với Abraham (x. Stk 15,18) và với dân Israel qua Môisen (x. Xac 24,8) Ngài đã dùng lời nói, việc làm mạc khải cho dân Ngài đã chọn để họ biết Ngài là Thiên Chúa độc nhất, chân thật và hằng sống, để Israel nghiệm thấy đâu là đường lối Thiên Chúa đối xử với loài người, và để nhờ chính Ngài phán dạy qua miệng các Tiên Tri, ngày qua ngày, họ thấu hiểu các đường lối ấy cách sâu đậm và rõ ràng hơn, để rồi đem phổ biến rộng rãi nơi các dân tộc (x. Tv 21,28-29; 95,1-3; Is 2,1-4; Gier 3,17). Vì vậy chương trình cứu độ được các thánh sử tiên báo, thuật lại và giải thích trong các sách Cựu Ước như là lời nói chân thật của Chúa. Bởi vậy các sách được Thiên Chúa linh ứng này luôn có một giá trị vĩnh viễn: "vì những gì đã được ghi chép là để dạy dỗ chúng ta, hầu chúng ta được hy vọng nhờ sự kiên nhẫn và nhờ sự ủi an của Thánh Kinh." (Rm 15,4) (DV 14).

Cựu Ước gồm bao nhiêu cuốn được xếp loại thế nào?

                Cựu Ước là Kinh Thánh được viết bằng tiêng Hi-bru (tiếng Do Thái cổ) và được thành hình trong khoảng năm 1000-100 trước Chúa giáng sinh (BC). Cực Ước gồm 46 cuốn được xếp theo bốn loại: a) Sách Luật: gồm 5 cuốn (còn gọi là Ngũ Kinh): Sáng Thế ký (Genesis), Xuất Ai Cập (Exodus), Levi (Leviticus0, Dân số (Number), Ðệ Nhị Luật (Deuteronomy). b) Sách Lịch Sử: gồm 16 cuốn: Gio-suê (Joshuă, Thẩm Phán (Judges), Rút (Ruth), Sa-mu-en 1 và 1 (1Samuel 1, 2Samuel), Các Vua 1 và 2 (King 1,1), Ký Sự 1 và 2 (Chronicles 1,2), Ét-ra, Ne-he-mi (Nehemianh), To-bi-a (Tobit), Ju-dith (Judith), es-tha (Ezra) và Mac-ca-bê-ô 1 và 2 (Maccabes 1,2). c) Sách Giáo Huấn: gồm 7 cuốn: Gióo (Job), Thánh Vịnh (Psalms), Châm Ngôn (Proverbs), Giảng Viên (Ecclesiastes), Diệu Ca Hay Dân Ca (Song of Songs), Khôn Ngoan (Wisdom), Huấn Ca (Sirach). d) Sách Tiên Tri: (Ngôn Sứ) gồm 18 cuốn: I-sa-a-a (Isaiah), Giê-sê-mi-a (Jeremianh), Ai-ca (Lamentations), Ba-rúc (Baruch), Ê-dê-ki-en (Ezekiel), Da-ni-en (Daniel), Ho-se (Hosea), Gio-en (Joel), A-mốt (amos), Áp-di-ca (Obadiah), Gio-na (Jonah), Mi-ka (Micah), Ha-hum (Nahum), Ha-ba-cu (Habakkuk), Xô-phô-ni-a (Zepthaniah), Hac-gai (Haggai), Za-ca-ri-a (Zechariah), Ma-la-ki-a (Malachi).

Thiên Chúa mạc khải lịch sử cứu độ thế nào trong Tân Ước?

 

                Thực vậy, khi đến thời viên mãn (x. Gal 4,4). Ngôi Lời đầy tràn ân sủng và chân lý đã nhập thể và ở giữa chúng ta (Gio 1,14). Chúa Kitô đã thiết lập Nước Thiên Chúa trên trần gian. Người mạc khải Cha Người và Chính Mình qua lời nói, việc làm và hoàn tất công trình Người khi Người chết, sống lại, lên trời vinh hiển và khi Người sai Chúa Thánh Thần đến. Bị treo lên khỏi đất (x. Gio 12,32, bản Hylạp), Người kéo mọi người đến với Mình, Người là Ðấng duy nhất có những lời ban sự sống vĩnh cửu (x. Gio 6,68). Nhưng mầu nhiệm này chưa bao giờ được tỏ cho các thế hệ khác biết, nay đã được mạc khải trong Thánh Thần cho các Thánh Tông Ðồ Người và cho các Tiên Tri (x. Eph 3,4-6, bản Hylạp), để họ rao giảng Phúc Âm, cổ võ lòng tin vào Chúa Giêsu, Ðấng được xức dầu và là Chúa, để đoàn tụ Giáo Hội. Những việc này, các sách Tân Ước đã minh chứng với một bằng chứng có giá trị vĩnh viễn và thần linh”. (DV 17)

 

Tân Ước gồm bao nhiêu cuốn được xếp loại thế nào?

                 Ngoài bốn Phúc Âm, danh sách Tân Ước còn ghi lại các thư Thánh Phaolô và những bút tích khác của các Tông Ðồ đã được viết dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần. Các bút tích này, theo ý định khôn ngoan của Thiên Chúa chứng thực những gì đã được nói về Chúa Kitô, trình bày giáo lý đích thực của Người ngày một rõ ràng hơn, rao truyền sức mạnh cứu độ của công trình thần linh của Chúa Kitô, và kể lại những bước đầu, sự bành trướng kỳ diệu cùng tiên báo sự kết thúc vinh hiển của Giáo Hội. (DV 20)

                Tân Ước gồm tất cả 27 cuốn thứ tự như sau: a) 4 cuốn Phúc Âm (Mác-cô, Mat-thêu, Lu-ca, và Gio-an). b) 1 cuốn Tông Ðồ Công Vụ. c) 14 thơ của Thánh Phao-lô. d) 7 thư chung của các Thánh: Phê-rô, Gia-cô-bê, Gio-an và Giu-đê. e) Cuối cùng là sách Khải Huyền của Thánh Gioan.

                Tân Ước được viết theo 4 thể văn: a) Thể tường thuật như bốn Phúc Âm ghi lại cuộc đời Ðức Ki-tô, các lời Ngài giảng dạy cũng như các việc Ngài làm. b) Thể lịch sử như sách Tông Ðồ Công Vụ ghi lại những nỗ lực của các tông đồ trong việc mở mang Giáo Hội. c) Thể thứ tín như các thơ thánh Phao-lô, Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê và Giu-đê viết cho các cộng đoàn để dắt, kiện cường và khuyên bảo dạy dỗ các giáo đoàn. d) Thể mặc khải của sách Khải Huyền tiên báo những điều sẽ xảy đến trong tương lai.

 

Kinh Thánh được linh ứng do Chúa Thánh Thần?.

                Chúng ta phải nhận rằng chính Chúa Thánh Thần đã làm việc qua các vị này để định tính chân lý của những quyển sách trong Bộ Kinh Thánh. Bản văn Tân Ước hoàn chỉnh xuất hiện lần đầu tiên ở Phương Đông trong Thư Phục Sinh của thánh Atanasio vào năm 367 AD (Annus domini – năm Chúa Giêsu giáng sinh). Sau đó, bản văn Tân Ước xuất hiện ở Phương Đông với sự chuẩn nhận của thánh Giêrônimô và Âu-tinh cũng như Đức Giáo Hoàng Damasco. Công đồng Ippona Regia (393 AD) và công đồng Cartagine (397 AD) đã chính thức công nhận những cuốn sách đang có ngày nay trong Cựu Ước và Tân Ước là Lời Chúa.              

                Kinh Thánh chứa đựng và trình bày những gì Thiên Chúa đã mạc khải. Kinh Thánh được viết ra dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần. Thực vậy, Giáo Hội Mẹ Thánh, nhờ đức tin tông truyền, xác nhận rằng toàn bộ sách Cựu Ước cũng như Tân Ước với tất cả các thành phần đều là sách thánh và được ghi vào bản chính lục Thánh Kinh: bởi lẽ được viết ra dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần (x. Gio 20,31; 2Tm 3,16; 2P 1,19-21; 3,15-16) nên tác giả của các sách ấy là chính Thiên Chúa và chúng được lưu truyền cho Giáo Hội với tình trạng như vậy. Nhưng để viết các sách thánh, Thiên Chúa đã chọn những người và dùng họ trong khả năng và phương tiện của họ, để khi chính Ngài hành động trong họ và qua họ, họ viết ra như những tác giả đích thực tất cả những gì Chúa muốn, và chỉ viết những điều đó thôi. Vì phải xem mọi lời các tác giả được linh ứng viết ra là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại vì phần rỗi chúng ta. Bởi vậy "mọi sự trong Thánh Kinh được Thiên Chúa linh ứng có ích lợi cho việc dạy dỗ, biện luận, sửa trị và rèn luyện trong công chính: để người của Thiên Chúa trở nên trọn hảo và sẵn sàng thực hiện mọi việc lành" (2Tm 1, 16-17 bản Hy lạp).(DV 11)

Linh ứng Kinh Thánh được hiểu như thế nào?

                Công Đồng Vatican 2 dạy: a) Có linh ứng Kinh Thánh nghĩa là có ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần, được hiểu theo hai nghĩa: Chúa Thánh Thần mạc khải các chân lý (ví dụ cho các ngôn sứ) và Chúa Thánh Thần tác động giúp viết thành văn bản để lưu truyền, đồng thời bảo đảm kết quả. b) Linh ứng ảnh hưởng đến toàn bản chính lục, bởi lẽ một cuốn sách được liệt kê vào bản chính lục là vì nó được linh ứng. Bản văn lập lại giáo thuyết của Vaticanô I, và thêm rằng giáo thuyết về linh ứng Thánh Kinh là di sản của các Tông Ðồ (Ðức tin tông truyền). c) Liên quan giữa các Thánh sử và Chúa Thánh Thần, Ðấng linh ứng: Chúa là tác giả, còn thánh sử là người viết sách; Thiên Chúa là tác giả "siêu việt" dùng thánh sử là con người hoàn toàn tự do và tự phát (với lỗi lầm của họ). d) Nhà chú giải Kinh Thánh cũng phải được hướng dẫn bởi cùng một Chúa Thánh Thần đã linh ứng các thánh sử. Việc chú giải và quyền Giáo Huấn phải cộng tác theo cùng một mục đích là làm phát triển sự hiểu biết Mạc Khải.

Chúa Giiêsu nói ngôn ngữ nào?

                Trong các Tin Mừng, Chúa Giêsu dùng ngôn ngữ  Aram, ví dụ như: «Talita qoum» (Mc 5, 41), «Ephphata» (Mc 7, 33). Maria Magđala cũng gọi Ngài bằng tiếng Aram «Rabbouni» (Ga 20,16). Vậy thì Chúa Giêsu nói tiếng Aram. Những lời cuối cùng của Ngài (là lời của Thánh vịnh 22): «Eloï, Eloï lama sabaqthani» (Mc 15, 34) cũng là tiếng Aram chứ không phải tiếng Do thái.

Chúa Giêsu nói tiếng Aram, nhưng tại sao các Tin Mừng được viết bằng tiếng Hy Lạp?

                Các Tin Mừng được viết ở những xứ sở khác nhau. Tin Mừng Matthêu được viết ở Antiokia thuộc xứ Syrie. Tin Mừng Mác cô được viết ở Roma. Tin Mừng Luca được viết ở Akaia thuộc Hy Lạp. Tin Mừng Gioan được viết ở Êphêsô. Các tác giả Tin Mừng vẫn sử dụng những truyền thống  truyền khẩu. Sau đó, họ xếp đặt chúng lại tùy theo quan điểm thần học hay đời sống cộng đoàn địa phương. Các bản văn Tin Mừng được viết cho những người nói tiếng Hy Lạp. sự kiện các Tin Mừng được viết bằng tiếng Hy Lạp cũng nói lên việc rao giảng Tin Mừng cho muôn dân gồm cả người Do Thái hay Hy Lạp, tự do hay nô lệ.

Các Tin Mừng Chúa Giêsu được dịch sang các ngôn ngữ thế nào?  

                Bản dịch bằng tiếng Hy Lạp Koiné nghĩa là ngôn ngữ pha trộn của Địa Trung Hải vào thời cổ đại, còn được gọi là thổ ngữ Alexandria, ban đầu chỉ bao gồm Torah (Ngũ kinh - nghĩa là năm cuốn sách đầu tiên của Kinh thánh Do Thái). Sau đó, những cuốn sách khác đã được dịch trong hai hoặc ba thế kỷ tiếp theo, được hoàn thành vào năm 132 trước Chúa giáng sinh. Bản dịch đầu tiên này là cơ sở cho các bản dịch sau này sang tiếng La tinh cổ (Vetus Latina), Slavonic, Syriac, Old Armenia, Old Georgia, và Coplic Christian phiên bản cũ của Cựu Ước.

                Nhưng ngay cả khi các Kitô hữu tiên khởi đều thông thạo tiếng Hy Lạp, với sự truyền bá đức tin qua đế chế La Mã, thì nhu cầu về một phiên bản La tinh đã đến sớm hơn thay vì muộn hơn. Ngay từ thế kỷ thứ 2, đã có rất nhiều bản dịch (với rất nhiều bổ sung và tham lam) lưu hành quanh Ý và Bắc Phi. Trên thực tế, chính Thánh Giêrônimô (dịch giả vĩ đại của Kinh thánh từ tiếng Do Thái và tiếng Hy Lạp sang tiếng La tinh, chịu trách nhiệm về Vulgate) tuyên bố rằng vào thế kỷ thứ 4, có rất nhiều văn bản viết tay.

                Vào năm 382, ​​Giáo hoàng Damasus đã yêu cầu Giêrônimô cung cấp một phiên bản La tinh đúng đắn  của các Tin mừng, sử dụng như là cơ sở cho phiên bản La tinh (Vetus Latina) đã được sử dụng trước đó. Giêrôlimô nhận nhiệm vụ lớn hơn và dịch càng nhiều sách Kinh thánh bao nhiêu có thể, sử dụng các văn bản gốc tiếng Do Thái và tiếng Hy Lạp, bao gồm Septuagint, từ tu viện của ông ở Bê lem. Bản dịch này được đón nhận rộng rãi đến mức cuối cùng phiên bản La tinh (Vetus Latina) hết được sử dụng. Đến thế kỷ 13, bản dịch của Giêrôlimô đã được gọi là bản  Vulgata là tiếng La tinh cho phiên bản thường được sử dụng. Công đồng Trent (1545-1563) đã xác nhận phiên bản Vulgate, như được biết trong tiếng Anh, như là Kinh thánh La tinh chính thức của Giáo hội Công Giáo La Mã (cho đến năm 1979, khi phiên bản Vulgata mới được ban hành.

Kinh Thánh nguyên bản được viết theo ngôn ngữ nào?

                Kinh Thánh nguyên bản được viết với 3 ngôn ngữ sau:

  1.  Tiếng Hibru (Hebrew): Hầu hết các sách trong phần Cựu Ước bằng tiếng Hibru, là một ngôn ngữ rất phong ph và giàu hình ảnh của người Do Thái thời bấy giờ nên rất thích hợp cho việc ghi chép các thể loại luật pháp, văn thơ, lịch sử của Kinh Thánh. Ngôn ngữ Hibru được xem là ngôn ngữ cổ xưa có từ 1.450 năm trước Chúa giáng sinh và vẫn được bảo tồn cho đến nay.
  2.  Tiếng A-ram (Aramaic): Chỉ có một phần nhỏ trong Cựu Ước được viết bằng tiếng A-ram, là ngôn ngữ của người Mê-đô Ba Tư (Medo-Persian). Lý do là kể từ năm 586 B.C, thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy bởi quân đội của vua Ba-by-lôn là Nê-bu-cát-nêt-sa, dân Do Thái bị bắt đem qua Ba-by-lôn, sau đó họ tiếp tục sống trong đế quốc Mê-đô Ba Tư, tại đây họ bắt đầu nói tiếng A-ram. Tiếng A-ram là ngôn ngữ rất thông dụng trong thời đó, ảnh hưởng trên một vùng rộng lớn thuộc đế quốc Mê-đô Ba Tư,  và ngay trong thời của Chúa Giêsu, người Do Thái cũng nói với nhau bằng tiếng A-ram. Cach sách Đa-ni-ên 2:4 đến 7:28 và Étra 4:8 đến 6:18; Étra 7:12-26 được viết bằng tiếng A-ram.
  3.  Tiếng Hy-lạp (Greek): Toàn bộ các sách trong phần Tân Ước đều được viết bằng tiếng Hy-lạp. Sự chinh phục của đế quốc Hy-lạp khởi đầu với Alexandre khiến cho ngôn ngữ  Hy-lạp có ảnh hưởng mạnh mẽ trên lĩnh vực văn chương trong đời sống của các dân tộc vùng Trung đông. Ngôn ngữ Hy-lạp rất phong phú, được xem là ngôn ngữ bác học và rất thích hợp để biên chép Kinh Thánh Tân Ước.

                Toàn bộ Cựu Ước được trước tác từ khoảng 1400 B.C đến 400 B.C. Toàn bộ Tân Ước được trước tác từ khoảng 66 A.D. đến 100 A.D.

Kinh Thánh có những bản văn khác nhau?

 

                Chúng ta có thể biết đến các khác biệt qua ý nghĩa của các thuật ngữ quan trọng sau đây:

                * Bản gốc (autograph): Là bản Kinh Thánh gốc, do chính tay tác giả viết dưới sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần.

                * Bản sao (manuscript): Không phải là bản Kinh Thánh gốc, nhưng được sao chép lại từ bản gốc. Các bản sao Kinh Thánh đều là các bản viết bằng tay. Đó là lý do tại sao gọi các bản sao (copy) là manuscripts trong Anh ngữ.

                * Bản in (print): Kể từ khi máy in được phát minh và hoàn thiện vào năm 1456. người ta dùng máy in để in Kinh Thánh (1456). Người ta không còn sao chép bằng tay nữa, nên tất cả những bản Kinh Thánh được xuất bản từ năm 1456 đều được xem là bản in.

                * Bản dịch (translation): Là những bản Kinh Thánh đã được chuyển ngữ từ nguyên bản hay từ bản sao nhằm để mọi dân tộc trên thế giới đều có thể đọc Kinh Thánh bằng ngôn ngữ của mình.

                * Kinh điển (canon): Là danh sách các quyển Kinh Thánh được Chúa Thánh Thần linh ứng để con người viết ra và được công nhận chính là Lời của Đức Chúa Trời. Thuật ngữ kinh điển nhằm để phân biệt sách được chính thức công nhận khá với một số sách người ta thêm vào trong bộ Kinh Thánh.

                * Ngoại kinh hay còn gọi là Ẩn kinh (apocrypha): Là những sách được thêm vào trong bộ Kinh Thánh Cựu Ước. Kinh Thánh Giáo hội Công Giáo La-mã và Kinh Thánh của Chính Thống Giáo Đông Phương (Eastern Orthodox) có có 47 cuốn theo danh sách Kinh diển.

 

Kinh Thánh được dịch ra những ngôn ngữ nào?

                Sau khi Kinh Thánh đã được xếp thành một bộ sưu tập duy nhất, nó đã được dịch ra hầu hết mọi ngôn ngữ (thậm chí cả ngôn ngữ hư cấu Star Trek của "Klingon"). Tuy nhiên, quá trình này đã được thực hiện dần trong Giáo hội Công giáo và mất nhiều thế kỷ của học hỏi và nghiên cứu để có được những bản dịch như chúng ta có ngày hôm nay. Dưới đây là bảng thời gian ngắn bao gồm các bản dịch chính được thực hiện bởi Giáo hội Công giáo để cung cấp cho bạn một ý tưởng về cách dịch Kinh Thánh đã được phê duyệt phải tiến triển qua nhiều năm.

                + Năm 400 BC. Bản dịch Aramaic Targum: Đây là bản dịch Cựu Ước sang tiếng A-ram, là ngôn ngữ thông dụng của dân Do Thái kể từ khi bị lưu đày ở Ba-by-lôn.

                + 200 BC. Bản Bảy Mươi (Septuagint): Là bản Kinh Thánh Ngũ Kinh bằng ngôn ngữ Hy-lạp được hình thành vào khoảng năm 200 B.C. Bản Bảy mươi ra đời trong giai đoạn thế giới chịu ảnh hưởng của văn chương Hy-lạp, những người Do Thái sống lưu lạc ở các nước khác không được đọc Kinh Thánh bằng tiếng Hi bru, họ cần có quyển  Kinh Thánh viết bằng ngôn ngữ Hy-lạp. Công trình phiên dịch từ tiếng Hi bru sang tiếng Hy-lạp được được thực hiện bởi 72 nhà dịch thuật thông thạo tiếng Hy-lạp, được tuyển chọn từ 12 chi tộc Israel (mỗi tộc có 6 vị). Họ được gửi đến Alexandria, đặt dưới sự bảo trợ của vua Ptolemy II Philadelphus nước Ai-cập. 72 vị nầy đã hoàn tất phiên dịch Ngũ Kinh trong suốt 72 ngày nên được gọi là Bản Bảy Mươi (LXX). Theo tài liệu Megillah ở Babylon Talmud, vua đã đặt họ trong 72 phòng, mỗi người trong một phòng riêng biệt, không tiết lộ cho họ lý do tại sao họ được triệu tập. Vua bước vào từng phòng của một người và nói: ‘Viết cho tôi Torah của Môi sê, thầy của bạn. Chúa đặt luật trong trái tim của mỗi người để họ dịch giống hệt như tất cả những người khác đã làm.

                + Năm 66-100 AD (niên lịch Chúa giáng sinh - AD). Những sách Tân Ước được viết bằng ngôn ngữ Hy lạp.

                + Năm 180 A.D. đến 300 A.D: Bản dịch Cựu Ước và Tân Ước sang tiếng La-tin, Syriac và Coptic. Có thể kể: Bản Old Latin (195 A.D.), bản The Old Syriac (300 A.D) và bản The Coptic Version (300 A.D)

                + Năm 363 AD. Công Đồng Laodicea: Thiết lập kinh điển hoặc mục lục về những sách Cựu Ước và Tân Ước được chấp nhận. Cựu Ước và Tân Ước ngôn ngữ Hy lạp.

                + Năm 382 AD. Toàn bộ Kinh Thánh sang ngôn ngữ La tinh do thánh Giêrônimô. Thánh Giê-rô-ni-mô nói:"Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Ki-tô"

                + Năm 1380 AD. Bản First English Translation: Đây là bản Kinh Thánh toàn bộ đầu tiên bằng Anh ngữ do John Wycliffe thực hiện. Ông không dịch trực tiếp từ nguyên bản tiếng Hi-bru và tiếng Hy-lạp nhưng từ bản Vulgate.  

                + Năm 1455 AD. Kinh Thánh Gutenberg: Ấn bản Kinh Thánh đầu tiên (Vulgate)

                + Năm 1545 AD. Công Đồng Trent: Bản Vulgate ngôn ngữ La tinh được công nhận là bản dịch Kinh Thánh chính thức.

                + Năm 1610 AD. Kinh Thánh Douay-Rheims: Bản dịch Anh ngữ đầu tiên của Kinh Thánh Vulgate La tinh.

                + Năm 1941 AD. Hiệp Hội Kinh Thánh: Những bản dịch do Hiệp Hội Tín Lý Ki tô dựa theo bản Vulgate La tinh.  

                + Năm 1949 AD. Kinh Thánh Knox: Một bản dịch từ Vulgate La tinh theo nguyên bản Do thái và Hy lạp.

                + Năm 1966 AD. Bản dịch Kinh Thánh Tiêu Chuẩn Tu Chính – Phiên bản Công giáo (Revised Standard Version – Catholic Edition): bản dịch chung của các học giả Tin lành và Công giáo xử dụng các bản văn Hy lạp và Do thái.

                + Năm 1966 AD. Kinh Thánh Giêrusalem (Jerusalem Bible): Bản dịch xử dụng các bản văn Hy lạp và Do thái so sánh với tiếng Pháp.

                + Năm 1970 AD. Tân Kinh Thánh Hoa Kỳ (New American Bible): Ấn hành do các Giám mục Hoa kỳ xử dụng các văn bản Hy lạp và Do thái.

                Theo vài nguồn tin, toàn bộ Kinh Thánh được dịch sang 670 ngôn ngữ. Chỉ riêng Tân Ước đã có sẵn trong 1.500 ngôn ngữ và ít nhất một phần của toàn bộ Kinh thánh (nghĩa là một cuốn sách, một thánh vịnh hoặc một đoạn từ Cựu Ước hoặc Tân Ước) đã được dịch sang hơn 3.000 ngôn ngữ. 3,000 bản dịch là rất nhiều nhưng 9 được một nửa so với tất cả các ngôn ngữ hiện đang được nói trên thế giới. Bây giờ, thế giới có 7.097 ngôn ngữ đang xử dụng và còn khoảng 4.000 ngôn ngữ đã phát triển một hệ thống chữ viết. Như vậy, Kinh thánh sẽ cần sịch sang 1,000 ngôn ngữ khác nữa. Đó là tin tốt lành cho các dịch giả.

 

Kinh Thánh được in ra bản văn trong thời gian nào?

                Những bản in ban đầu rất thô sơ nhưng dần dần được hoàn thiện theo thời gian. Kể từ khi máy in được phát minh, người ta không sao chép Kinh Thánh bằng cách viết tay nữa. Máy in đã giúp in Kinh Thánh nhanh chóng với số lượng rất lớn và với khổ in đa dạng như hiện nay. Những bản Kinh Thánh đầu tiên được xuất bản dưới dạng bản in (printed Bible):

                * Bản Gutenberg (1456): Đây là bản in Kinh Thánh đầu tiên bằng tiếng La-tin.

Bản Erasmus (1514): Đây là bản in Tân Ước bằng tiếng Hy-lạp.

                * Bản Polyglot Bible (1522): Bản in Cựu Ước bằng tiếng Hi-bru, A-ram, Hy-lạp và La-tinh; phần Tân Ước bằng tiếng Hy-lạp và La-tin. Bộ Kinh Thánh nầy gồm tất cả 6 cuốn, trình bày nhiều ngôn ngữ song song với nhau.

                * Bản King James Version (1611): Viết tắt là KJV. Đây là bản tiếng Anh, được phiên dịch theo nguyên ngữ Hi-bru và Hy Lạp.

Kinh Thánh quan trọng với Giáo Hội không?

                Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu. Cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh đã và đang được Giáo Hội xem như là quy luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh ứng và đã được ghi chép một lần cho muôn đời, Thánh Kinh phân phát cách bất di bất dịch lời của chính Chúa và làm vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các Tiên Tri cùng với các Tông Ðồ. Bởi vậy, mọi lời giảng dạy trong Giáo Hội cũng như chính đạo thánh Chúa Kitô phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Thực thế, trong các sách thánh, Chúa Cha trên trời bằng tất cả lòng trìu mến đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ. Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Giáo Hội, ban sức mạnh đức tin cho con cái Giáo Hội, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Giáo Hội. Bởi thế, lời nói sau đây thật xứng hợp cho Thánh Kinh: "Thực vậy, lời Thiên Chúa sống động và linh nghiệm" (Dth 4,12). "có khả năng gây dựng và ban gia tài cho mọi người đã được thánh hóa" (CvTđ 20,32; x. 1Th 2, 13). (DV 21)

Con người được ích gì khi học và đọc, cầu nguyện và sùng kính Lời Chúa?

                Tất cả các giáo sĩ, trước hết là các linh mục, các phó tế và những người dạy giáo lý và những người có bổn phận phục vụ lời Chúa phải gắn bó với việc đọc và học Kinh Thánh để họ truyền đạt kho tàng bao la của lời Chúa, nhất là trong phụng vụ thánh, cho các giáo hữu được ủy thác cho họ. Mọi tu sĩ và tín hữu Kitô hữu phải năng đọc Kinh Thánh để học biết "khoa học siêu việt của Chúa Giêsu Kitô" (Ph 3,8). "Vì không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô"  (thánh Giêrônimô). Họ nên hăng hái tiếp xúc với chính bản văn Thánh Kinh nhờ Phụng Vụ Thánh dồi dào lời Thiên Chúa hoặc nhờ sốt sắng cầu nguyện bằng Kinh Thánh. Mọi người cũng nên nhớ rằng kinh nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì "chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sâm ngôn thần linh" Nếu đời sống Giáo Hội được tăng triển nhờ năng nhận lãnh Bí Tích Thánh Thể, cũng thế, cũng có thể hy vọng đời sống thiêng liêng được đổi mới nhờ thêm lòng sùng kính lời Chúa, là lời "hằng tồn tại muôn đời" (Is 40,8; 1P 1,23-25). (DV 25-26)

Linh mục Nguyễn Tất Thắng, O.P.


Bài viết cùng danh mục:

 
Du lịch Carnival Group